I. Giới thiệu chung
1. Tác giả -Tác phẩm
* Tác giả(1867- 1940)
- Quê: nam Đàn- NGhệ An
- Là một nhà yêu nước, nhà CM lớn nhất VN trong hai thập kỉ đầu TK XX
- Là nhà văn, nhà thơ lớn.
* Tác phẩm
- VB nằm trong tập “Ngục trung thư”, viết bằng chữ Hán, sáng tác vào đầu năm 1941
- Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật
2. Chú thích
3. Bố cục
Bốn phần: đề, thực, luận, kết.
II. Tìm hiểu văn bản
1. Đọc
2. Tìm hiểu văn bản
a. Hai câu đề
“Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu”
- hào kiệt, phong lưu: phong thái đường hoàng, tự tin, ung dung, thanh thản vừa ngang tàng, bất khuất lại vừa hào hoa, tài tử; điệp từ
- “vẫn” khẳng định rằng phong thái ấy không bao giờ thay đổi dù trong bất kì hoàn cảnh nào.
- “Chạy mỏi chân thì hãy ở tù”
-> nhà tù chỉ là nơi tạm nghỉ chân
-> giọng điệu vừa cứng cỏi vừa mềm mại thể hiện sự bình tĩnh, tự chủ trước nguy nan
b. Hai câu thực
“Đã khách không nhà trong bốn biển”
-> Cuộc đời bôn ba chiến đấu, đầy sóng gió và bất trắc.
“Lại người có tội giữa năm châu”
-> Tự nhận mình là người có tội, PBC vừa nêu lên hiện thực, vừa mỉa mai về “danh xưng” mà kẻ thù dành cho một người yêu nước như ông
-> giọng điệu trầm thống, diễn tả nỗi đau cố nén, khác với giọng cười cợt ở hai câu trên
c. Hai câu luận
“Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế
Mở miệng cười tan cuộc oán thù”
-> Cho dù ở hoàn cảnh bi kịch đến mức độ nào thì vẫn một lòng theo đuổi sự nghiệp cứu nước, cứu đời. Tiếng cười của người yêu nước trong cảnh tù ngục có sức mạnh chiến thắng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù.
-> sử dụng lối nói khoa trương tạo nên giọng điệu cứng cỏi, hùng hồn
d. Hai câu kết
“Thân ấy hãy còn còn sự nghiệp
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu”
-> Còn sống là còn chiến đấu, không có khó khăn nguy hiểm nào có thể làm nhụt ý chí quyết tâm đấu tranh của người yêu nước
-> điệp từ “còn” tạo nên giọng điệu mạnh mẽ, dõng dạc, dứt khoát, tăng ý khẳng định cho câu thơ
III. Tổng kết và luyện tập(SGK)